Ends in

Bộ dữ liệu VHLSS 2018 (khoảng 45k hộ) là vòng điều tra mức sống dân cư có quy mô lớn, giữ vai trò bản lề nối tiếp chuỗi mẫu 9k hộ giai đoạn 2002–2016 và đặt nền cho các vòng mẫu lớn sau này (2020, 2022, 2024) với thiết kế nhất quán trên toàn bộ hệ thống VHLSS. Nhờ tính chính thống, thiết kế mẫu chuẩn quốc gia và bảng hỏi bao quát nhiều khía cạnh mức sống, bộ dữ liệu này đặc biệt phù hợp cho các nghiên cứu kinh tế – xã hội về di cư lao động, kiều hối và lan tỏa tri thức ở Việt Nam.

Vị trí của VHLSS 2018 trong chuỗi VHLSS

Từ 1993 đến nay, Tổng cục Thống kê (TCTK) triển khai đều đặn Khảo sát mức sống dân cư (VLSS/VHLSS) nhằm phục vụ đánh giá nghèo đói, theo dõi thực hiện chiến lược giảm nghèo toàn diện, mục tiêu phát triển bền vững và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội. Từ 2002 đến 2010, VHLSS thực hiện 2 năm một lần, sau đó từ 2011 đến 2022 được tiến hành hằng năm, trong đó các năm chẵn (như 2018, 2020, 2022) thu thập bộ chỉ tiêu mức sống đầy đủ, còn các năm lẻ chủ yếu thu thập nhân khẩu học, việc làm và thu nhập.

Về mặt chuỗi dữ liệu vi mô, các tài liệu phương pháp cho thấy VHLSS sử dụng một phân mẫu lõi khoảng 9.000 hộ để cho phép so sánh nhất quán giữa các năm (rotating panel), bên trong tổng mẫu lớn hơn dùng cho ước lượng cấp quốc gia – vùng – tỉnh. Năm 2018 vì vậy vừa kế thừa phân mẫu 9k hộ đã xuất hiện liên tục từ các vòng 2002–2016, vừa là điểm khởi đầu cho “thế hệ” VHLSS mẫu lớn liên tục 2018–2020–2022 (và dự kiến 2024) với thiết kế và nội dung bảng hỏi được duy trì nhất quán.

Thiết kế mẫu và phạm vi bao phủ

Các tài liệu thiết kế mẫu VHLSS cho giai đoạn sau 2002 mô tả thiết kế 2 giai đoạn phân tầng, trong đó: (i) chọn địa bàn điều tra (EA/commune) theo khung mẫu tổng điều tra dân số, (ii) chọn hộ ngẫu nhiên trong mỗi địa bàn. VHLSS 2012 – một vòng điển hình – có tổng cộng 46.995 hộ, với 37.596 hộ trả lời module thu nhập và 9.399 hộ trả lời đầy đủ thu nhập – chi tiêu – các thông tin mức sống khác; cấu trúc cỡ mẫu và phân bổ theo tỉnh, thành thị – nông thôn được duy trì tương tự trong các vòng sau như 2018 và 2022.

Trong sách “Kết quả khảo sát mức sống dân cư Việt Nam năm 2018”, TCTK nhấn mạnh rằng mẫu điều tra được thiết kế để đại diện cho cả nước, khu vực thành thị – nông thôn và các vùng kinh tế – xã hội, cũng như cấp tỉnh/thành phố, tương tự như các vòng 2020 và 2022. Các nghiên cứu sử dụng VHLSS 2014–2018 cũng xác nhận dữ liệu bao phủ hộ gia đình và xã/phường ở cả 63 tỉnh, với khả năng suy rộng cho toàn bộ dân cư Việt Nam.

Bộ dữ liệu sản phẩm mà bạn gọi là “bộ 45k hộ” 2018 có thể được hiểu là tập mẫu lớn khoảng 45–47 nghìn hộ, trong đó tồn tại một phân mẫu sâu khoảng 9.399 hộ được thu thập chi tiết hơn về chi tiêu và mức sống, phục vụ phân tích vi mô chuyên sâu và so sánh theo thời gian. Một báo cáo về khả dụng dữ liệu VHLSS 2018 chỉ ra rằng bộ dữ liệu hộ có hơn 70 nghìn quan sát cá nhân, các biến khóa để nối với VHLSS 2016 (như “hoso16”, biến tham gia KSMS 2016), cho phép xây dựng panel 2016–2018 trên phân mẫu hộ được theo dõi.

Nội dung và cấu trúc thông tin

Ấn phẩm kết quả chính thức VHLSS 2018 gồm hai phần: (1) Tổng quan mức sống dân cư Việt Nam năm 2018; (2) Hệ thống bảng số liệu tổng hợp về mức sống. Mô tả thư mục của cuốn sách cho biết nội dung bao gồm: nhân khẩu học, giáo dục, y tế và chăm sóc sức khỏe, việc làm và thu nhập, chi tiêu, nhà ở, điện, nước, phương tiện vệ sinh và tài sản lâu bền, chương trình xóa đói giảm nghèo và các đặc điểm chung của xã.

Ở mức dữ liệu vi mô, các nghiên cứu sử dụng VHLSS 2014–2018 cho thấy bộ câu hỏi hộ và cá nhân bao trùm: đặc điểm nhân khẩu, trình độ học vấn và kỹ năng, tình trạng việc làm, thu nhập từ nhiều nguồn, nhận kiều hối, tài sản, tiếp cận dịch vụ công và chương trình trợ giúp xã hội. Dữ liệu cấp xã/phường ghi nhận thông tin về điều kiện kinh tế – xã hội, cơ sở hạ tầng, dịch vụ giáo dục – y tế, các chương trình hỗ trợ, tạo điều kiện để kết hợp phân tích bối cảnh nơi đi – nơi đến trong các nghiên cứu di cư và lan tỏa tri thức.

Tính chính thống và nhất quán của chuỗi VHLSS

VHLSS được TCTK tổ chức theo quyết định/kế hoạch riêng từng năm, với quy trình sản xuất thống kê cấp cao, từ thiết kế mẫu, xây dựng bảng hỏi, đào tạo điều tra viên đến xử lý – hiệu chỉnh và công bố dữ liệu. Tài liệu giới thiệu VHLSS 2002 nêu rõ mục tiêu của chuỗi là giám sát có hệ thống mức sống các nhóm dân cư, đánh giá chiến lược giảm nghèo, và theo dõi các mục tiêu phát triển (MDGs, sau này là SDGs); cấu trúc nội dung này được duy trì và cập nhật dần qua các vòng 2010, 2012, 2014, 2016, 2018, 2020, 2022.

Thiết kế phân mẫu lớn (khoảng 45k hộ) cộng với phân mẫu lõi khoảng 9k hộ cho so sánh liên thời gian là điểm nhất quán xuyên suốt các tài liệu mô tả VHLSS 2002, 2004, 2010–2012 và được phản ánh trong mô tả cỡ mẫu các vòng gần đây. VHLSS 2018 vì thế có thể được xem là nút liên kết chính thức: (i) kế thừa chuỗi panel 9k hộ từ 2002–2016; (ii) đồng thời khởi tạo “thế hệ” VHLSS mẫu lớn hiện đại (2018–2020–2022–2024) với nội dung và thiết kế tương thích, cho phép xây dựng chuỗi nghiên cứu dài hạn về mức sống, nghèo đói, bất bình đẳng và các chủ đề kinh tế xã hội khác.

Ứng dụng nghiên cứu: di cư, kiều hối, lan tỏa tri thức

Nhiều nghiên cứu sử dụng VHLSS đã tập trung vào di cư lao động và kiều hối, ví dụ: phân tích tác động kiều hối đến giáo dục và sức khỏe trẻ em dựa trên VHLSS 2014, 2016, 2018; hay phân tích di cư nông thôn – đô thị và kiều hối gắn VHLSS 2012 với điều tra truy vết người di cư. Các nghiên cứu khác dùng chuỗi VHLSS 2010–2020 để ước lượng xác suất di cư hộ gia đình và vai trò của điều kiện môi trường, hạ tầng, điện nước và khí hậu trong quyết định di chuyển, cho thấy bộ dữ liệu chứa thông tin phong phú phục vụ mô hình di cư ở cấp hộ.

Về kiều hối và bất bình đẳng, VHLSS cũng được dùng để đánh giá tác động của kiều hối tới phân bổ thu nhập, sức khỏe, bất bình đẳng giữa các tỉnh, cũng như làm đầu vào cho các nghiên cứu vĩ mô về thị trường lao động và kiều hối. Nhờ chứa dữ liệu chi tiết về trình độ học vấn, ngành nghề, khu vực làm việc, thu nhập, di cư và kiều hối, VHLSS 2018 có thể kết hợp với khung lý thuyết “kiến thức hồi hương” (knowledge remittances) trong kinh tế học di cư để nghiên cứu cơ chế lan tỏa tri thức thông qua dòng người – dòng tiền giữa các vùng trong nước và giữa Việt Nam với nước ngoài.

Cụ thể, từ bộ dữ liệu VHLSS 2018 (45k hộ) và liên kết với các vòng trước – sau, bạn có thể: (i) xây dựng mô hình kinh tế lượng về quyết định di cư hộ gia đình và tác động của di cư tới thu nhập – chi tiêu – nghèo đói; (ii) đo lường ảnh hưởng của kiều hối đến đầu tư giáo dục, sức khỏe, tài sản và bất bình đẳng ở cấp hộ hoặc tỉnh; (iii) khai thác thông tin về kỹ năng, nghề nghiệp, khuynh hướng di cư để nghiên cứu lan tỏa tri thức, chuyển giao vốn nhân lực và tích lũy năng lực sản xuất tại nơi gửi và nơi nhận.

No comments found.
Login to post a comment
This item has not received any review yet.
Login to review this item
No Questions / Answers added yet.
Item details
Category Advanced
Comments 0
Rating
Sales 0
Recently viewed items
{{ recentPurchase.name.shorten(30) }}
{{ __('Just purchased') }} "{{ recentPurchase.item_name.shorten(30) }}"
{{ recentPurchase.price }}
{{ userMessage }}
Processing